Khi ammonite chết đi xác của chúng chìm xuống đáy biển, trải qua hàng trăm triệu năm, với những sự tác động của thiên nhiên trong những điều kiện nhất định bị chôn vùi trong những lớp đá trầm tích, thời gian qua đi, lớp trầm tích biến thành đá cứng, qua hàng triệu năm lớp đá chưa hóa thạch có thể bị dịch chuyển, trồi lên trở thành một phần của dãy núi mới. cuối cùng những tác động của thời tiết, sự xói mòn dần dần lộ ra các hóa thạch .

Nhìn chung, bất kể thuộc giống loài ammonite nào, cũng có thể được hóa thạch (Petrification) theo hai cách khác nhau: thay thế (replacement) hay khoáng hóa (permineralization). Trong cả hai loại, các thành phần vốn có của sinh vật được thay thế/biến đổi bởi những điều kiện bên ngoài và hình thành nên hóa thạch. Dựa vào thành phần khoáng trong hóa thạch, riêng về ammonite, ta có thể chia ra thành hai nhóm chính là bị sắt hóa (ironized, iron –impregnated) và bị cát hóa (silicated), nếu phân nhỏ hơn, nên chia thành vài loại cơ bản sau:

Hematized Ammonite (bị hemetite hóa): Hiếm gặp, phần lớn ammonite trên thị trường có nguồn gốc Maroc. Chưa có thông tin gì về loại ammonite tại Việt Nam. Đặc điểm, bị hematite (Oxit sắt) chiếm, vỏ màu đen bóng, nặng tay, thường dễ dàng bóc tách khỏi đá nền nên hầu hết được bán riêng rẽ. Nếu bị phong hóa, có hiện tượng bị dính bám mảng màu vàng của gỉ sắt. Thường được dùng làm trang sức.

Pyritized Ammonite (bị pyrite hóa): Hiếm gặp, thường xuất hiện trên thị trường có nguồn gốc châu Âu (Anh, Pháp, Nga..). Đặc điểm dễ nhận ra là màu vàng óng ánh của vàng găm, do bị pyrite (FeS2) chiếm, vỏ bóng, nặng tay, dễ bóc tách khỏi nền đá nên hầu hết được bán riêng rẽ. Nếu bị phong hóa, có hiện tượng bong dính bột màu vàng mùi lưu huỳnh. Thường được dùng làm trang sức. Chưa có thông tin gì về loại ammonite này tại Việt Nam.

Calcitized Ammonite (bị canxit hóa): không quá hiếm, thường xuất hiện ở hóa thạch châu Âu. Ở Việt Nam, loại này có ở Lạng Sơn, nhiều nhất ở chỗ ga Bắc Thủy, có con nặng đến khoảng chục ký. Đặc điểm dễ nhận ra là sự thấu sáng, rất mịn và bóng bẩy, nhìn giống như nhựa hoặc sáp ong. Thường có màu trắng sáng đến vàng nâu. Nếu bị phong hóa, vẫn giữ dc độ bóng, nhưng mất đi đường nét. Có thể chỉ hóa canxit một phần của vỏ ốc. Có thể được dùng trong trang sức.

Silicated Ammonite (bị cát kết hóa {?}):  nguồn gốc từ khắp nơi. Đặc điểm dễ nhận ra là bong cát, màu vàng, nâu, xám cho đến trắng, khá nhẹ, dễ sinh bụi, dễ vỡ. Phần lớn bị trầy trụa, khó toàn vẹn nếu bị phong hóa. Khá xấu, hầu như không được dùng làm trang sức, giá thành thấp. Ở Việt Nam, có thể tìm thấy  ở khu vực Tây Nguyên. Loại này thường đạt kích thước lớn, do vậy thường chọn làm mẫu vật trình bày trong bảo tàng, có giá trị rất cao.

Agatized Ammonite (bị mã não hóa): bị cát hóa, nhưng biến thành mã não. Là loại tương đối hiếm, nhưng gần đây phổ biến do khai thác lớn từ Madagascar, mặc dù có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác. Đặc điểm nhận dạng là độ trong suốt (hoặc bán trong), màu vàng cho đến cam đỏ, có đường vân sinh trưởng rất rõ, rất thường có hiện tượng kết tinh thạch anh. Đẹp, quý và thường được dùng làm trang sức. Không có thông tin về loại ammonite này tại Việt Nam.

Ammolite: là loại quý trong dòng ammonite. Đặc điểm nhận dạng là màu sắc sặc rỡ ngũ sắc, rất đẹp, có ánh lụa như xà cừ. Chỉ duy nhất xuất hiện ở bắc mỹ (bắc USA và Canada) nên giá thành rất cao. Hiếm gặp hơn có thể tìm thấy ở Madagacar, Nhật bản và vài nơi khác (mặc dù nhiều tài liệu chỉ ghi nhận ở bắc mỹ) nhưng thường là lớp mỏng, khó chế tác, trong khi ở bắc mỹ sẽ dầy, liền khối dễ chế tác. Được dùng làm trang sức dưới tên Ammolite, Kolite và là loại ammonite duy nhất được xếp vào đá quý (Gems) năm 1981 bởi CIBJO. Khi chế tác xong, có thể nhầm lẫn với Spectrolite, và Black Opal, do ít khi còn nguyên vẹn nguyên con, thường bị cắt nhỏ thành miếng.

Opalized Ammonite (bị opal hóa): hiếm hơn ammolite nhiều, nhưng lại có giá thấp hơn ammolite, do thường có hình dạng xấu xí hơn. Trên thị trường, nó thường được bán dưới tên ammolite. Tuy xấu hơn ammolite sau khi chế tác, opalized ammonite vẫn rất đẹp, màu ngũ sắc, thường gặp ở dạng đục trắng sữa giống với opal welo. Chủ yếu tìm thấy ở châu âu, ít thấy các nơi khác. Đa số trên thị trường các loại ammolite cấp thấp (màu đơn sắc, ít sặc sỡ, hoặc loại lớp mỏng) được bán với tên gọi Opalized Ammonite.

Ammolite Madagascar. Tuy nhiên, nó thường được bán với tên chính xác là iridescent ammonite để tránh nhầm lẫn với Ammolite bắc mỹ.

Có những trường hợp ammonite còn sống nhưng do quá trình núi lửa phun trào, nhiệt độ nóng lên, một số khu vực thì núi lửa phun trào từ đáy biển khiến những con ammonite bị cuộn ép trong khối dung nham, làm những con ammonite chết đột ngột, có những con gần nhau thì bị tác động cuộn ép vào nhau vì thế mà hình thành các ổ ammonite nằm chồng chéo lên nhau.

2 ổ ammonite cực hiếm được tìm thấy ở Việt Nam .

Rất hiếm khi bắt gặp những mẫu ammonite thịt vẫn còn nguyên vẹn mà không bị phân hủy, điều này chứng tỏ ammonite hình thành ở Việt Nam có nhiều chi tiết cần nghiên cứu thêm .

Phong thủy gia nổi tiếng của Hồng Kong Lí Minh Cư đã gợi ý chúng ta có thể sử dụng Ngọc Ốc ammonite vào những mục đích Phong Thủy sau:
-Trấn trạch kị tà: Đặt Ốc ammonite quay ra vị trí cần trấn sát khí, tà khí, xoay mặt ngọc ra ngoài hoặc 1 úp 1 ngửa như hình âm dương thái cực. Công dụng: hóa giải mọi loại sát khí đến từ bên ngoài, an gia vượng nghiệp.

-Vượng tài lộc, công danh: đặt ốc ammonite còn nguyên bản chưa cắt tại nơi làm việc hoặc tủ trưng bày ở phòng khách hoặc trên két sắt

-Hộ thân bảo mệnh: đeo Ốc ammonite loại nhỏ trên người có tác dụng như gương bát quái song không phản chiếu khí tốt đi mà ngược lại mang đến may mắn cho người sử dụng.