Aragonit là một biến thể cứng của calcit. Tinh thể calcit có dạng sáu phương, còn ở aragonit tinh thể có dạng trực thoi. Gặp ở dạng tinh thể hình bó, hình phóng xạ và ngôi sao. Cũng thấy những dạng vỏ, tuyền hoa, dạng cầu, trứng cá, hình que và cành cây. Màu của aragonit dao động từ trắng, trắng phớt vàng đến lục nhạt và tím. Trong thành phần của aragonit có thể có hợp chất của chì, stronxi và kẽm. Aragonit thường có cấu trúc hình cầu (Oolit)

Tính chất vật lý :

  • Độ cứng : 3,5 đến 4,0 – tinh thể trực thoi.
  • Tỷ trọng : 2,9 – 3,0 gam/ cm3 – ánh xà cừ mờ.

Công dụng trị bệnh : Aragonit là nguồn dung nạp muối Canxi cần thiết mà cả cơ thể con người và động vật có thể dễ dàng hấp thu. Bùn trị bệnh giầu aragonit lấy ở biển chết hỗ trợ trị bệnh là vì chúng qua những lớp Aragonit. Nước lọc qua lớp vỏ san hô nhiều aragonit cũng có khả năng trị bệnh như thế. Không phải tự nhiên con người tại những vùng đảo san hô thường sống thọ. Tính chất trị bệnh của aragonit có được là vì độ xốp của chúng lớp gấp ngàn lần của calcit.

Tính chất khác : Aragonit được xem là đá của sự may mắn và vui vẻ cho gia đạo. Chúng giúp giữ vững sự nhẹ nhàng trong tâm hồn và ổn định về tâm lý. Nhiều người tin rằng aragonit rất tốt cho việc thiền định. Aragonit đại diện cho chòm sao Song Ngư trong 12 cung hoàng đạo. Năng lượng âm, không xác định tác động cụ thể đến luân xa.

Tác dụng khác : Những nhóm tinh thể có hình dạng đẹp được sử dụng để trang trí.

Nguồn gốc hình thành : Aragonit là 1 khoáng vật nhiệt dịch ở nhiệt độ thấp do thế hình thành ở cuối những quy trình nhiệt dịch, ta thấy chúng trong những khe của các đá siêu bazic bị serpentin hóa, trong những hồng của đá ba gian bị tiêu hủy thỉnh thoảng trong đá cẩm thạch, trong dung nham núi lửa vì những suối nóng bão hòa CaCO3 đong lại. Tuy nhiên, khối đá chính của Aragonit tạo ra trong quá trình ngoại sinh vì sự tham gia của muối hóa tan, chúng tao nên các dạng phóng xa hay truyền hoa trong những đá siêu bazic mà Magiee và trộn với dolomit, thạch anh và chất sét.